Nguy hiểm các nguyên nhân vàng da ở trẻ sơ sinh các cha mẹ chú ý và cách xử lý

Bệnh vàng da ở trẻ sơ sinh rất là thường gặp ở hầu hết trẻ em mới sinh ra, đó là bệnh vàng da sinh lí và nó sẽ tự động mất đi sau 1 thời gian. Bên cạnh đó là vàng da bệnh lý vô cùng nguy hiểm có thể làm cho trẻ bị hôn mê, co giật ảnh hưởng đến não cùng sự phát triển của trẻ. Làm thế nào phát hiện và phân biệt 2 loại vàng da khi trẻ sơ sinh bị mắc phải, cùng mecuteo.net tìm hiểu nguyên nhân và cách xử lí các mẹ nhé.

Các nguyên nhân và xử lí vàng da ở trẻ sơ sinh

Cách phát hiện bệnh vàng da ở trẻ sơ sinh

Cần quan sát màu da của trẻ nơi có ánh sáng để phát hiện bệnh vàng da.

Phần lớn các bà mẹ có thói quen nằm trong phòng kín và tối sau sinh nên khó phát hiện bệnh vàng da ở trẻ. Nếu không kịp thời điều trị, bệnh có thể để lại nhiều di chứng như giảm thị lực, thính lực, đần độn.

Vàng da sơ sinh có hai loại:

Vàng da sinh lý - Các nguyên nhân và xử lí vàng da ở trẻ sơ sinh

  •  Vàng da sinh lý: xảy ra khi trẻ được 1-7 ngày tuổi. Tuy nhiên, trẻ vẫn ăn ngủ bình thường và hiện tượng này sẽ tự hết, không cần điều trị và không nguy hiểm.
  • Vàng da bệnh lý hay vàng da nhân thường gặp ở trẻ sinh non. Các em bị vàng da từ đầu đến chân ngay khi lọt lòng. Nếu không được điều trị đúng mức, trẻ sẽ bị nhiễm độc thần kinh, co giật, hôn mê rồi tử vong.
  • Cách phát hiện trẻ bị vàng da:
  • Sau khi sinh 1-2 ngày, quan sát màu da toàn thân của trẻ ở nơi có ánh sáng.
  • Dùng ngón tay ấn nhẹ vào trán, mũi và trên cơ thể trẻ. Nếu thấy da có màu vàng đậm mà không trắng như những trẻ khác thì cần cảnh giác.
  • Quan sát một số biểu hiện bất thường của trẻ như quấy khóc, bú yếu, ngủ nhiều, nước tiểu ít và trong, không đi tiêu phân su.

Việc điều trị bệnh vàng da rất khó khăn, trẻ phải được rọi đèn nhằm loại bỏ nhanh chất độc trong cơ thể, phải thay máu nếu bị nặng và làm xét nghiệm để tìm độc chất bilirubin. Ngoài ra, cần sử dụng thuốc điều trị bệnh vàng da đặc hiệu theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Những điều cần biết về chứng vàng da ở trẻ sơ sinh

Đây là triệu chứng thường gặp ở trẻ sơ sinh, xảy ra ở 9% số trẻ đủ tháng. Ở trẻ sinh non, tỷ lệ vàng da là 30%. Vàng da sinh lý không nguy hiểm, thường tự mất sau một thời gian ngắn; còn vàng da bệnh lý có thể gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Sau đây là giải đáp cho một số câu hỏi về bệnh vàng da:

1.Nguyên nhân trẻ sơ sinh dễ bị vàng da?

Phần lớn trẻ sơ sinh có biểu hiện vàng da trong vòng 1 tuần sau khi ra đời. Đây là hiện tượng sinh lý bình thường, xảy ra do các hồng cầu của thai nhi bị phá hủy để được thay thế bằng hồng cầu trưởng thành. Khi hồng cầu bị vỡ, một lượng lớn Bilirubin – một chất có sắc tố màu vàng – được phóng thích vào máu, làm cho trẻ bị vàng da.

2.Vàng da sơ sinh có nguy hiểm không?

Đa số các trường hợp vàng da ở trẻ sơ sinh đều nhẹ và tự khỏi sau 7-10 ngày, khi chất Bilirubin được đào thải hết qua phân và nước tiểu. Tuy nhiên, có một số trường hợp vàng da nặng do chất Bilirubin tăng quá cao và thấm vào não (y học gọi là vàng da nhân). Tình trạng này rất nguy hiểm, có thể làm cho trẻ bị hôn mê, co giật, dẫn đến tử vong hoặc di chứng về tâm thần vận động vĩnh viễn.

3.Làm thế nào để phát hiện vàng da?

Chứng vàng da rất dễ nhận biết bằng mắt thường ở nơi có đủ ánh sáng. Vì vậy, hằng ngày, các bà mẹ cần quan sát màu da toàn thân của trẻ ở nơi sáng. Trong trường hợp khó nhận biết (da trẻ đỏ hồng hoặc đen), nên ấn nhẹ ngón tay cái lên da trẻ trong vài giây, sau đó buông ra; nếu trẻ bị vàng da, nơi ấn ngón tay sẽ có màu vàng rõ rệt. Khi trẻ có biểu hiện nghi là vàng da, cần đưa đến bác sĩ để kiểm tra.

4.Vàng da được chia thành 2 mức độ:

– Nhẹ: Da hơi vàng ở mặt, thân mình; trẻ vẫn bú tốt; hoặc vàng da xuất hiện muộn, sau ngày thứ ba.

– Nặng: Da vàng sậm, lan xuống tay, chân; trẻ bú kém, bỏ bú; hoặc vàng da xuất hiện sớm, trong vòng 1-2 ngày sau sinh. Những trẻ sinh non, nhiễm trùng, sinh ngạt dễ bị vàng da nặng.

5.Khi trẻ bị vàng da thì phải làm gì?

Đối với trường hợp nhẹ, có thể điều trị tại nhà bằng cách tắm nắng. Đặt trẻ gần cửa sổ, nơi có ánh nắng dịu của mặt trời (vào khoảng 8-8h30 mỗi sáng, lúc trời không quá nóng hay quá lạnh). Cho trẻ bú nhiều lần trong ngày vì sữa mẹ giúp đào thải nhanh chất Bilirubin qua đường tiêu hóa. Cần theo dõi diễn tiến của chứng vàng da mỗi ngày trong vòng 7-10 ngày sau sinh.

Trẻ bị vàng da nặng cần được nhập viện ngay để được điều trị tích cực bằng các phương pháp sau:

  • Chiếu đèn: Ánh sáng của đèn biến Bilirubin thành chất không độc và được thải nhanh ra khỏi cơ thể qua đường tiêu hóa, đường tiểu.
  • Thay máu: Lấy bớt chất Bilirubin ra khỏi cơ thể một cách nhanh chóng.
  • Cách kiểm tra bé có bị vàng da bệnh lý?

Cách kiểm tra bé có bị vàng da bệnh lý? - Các nguyên nhân và xử lí vàng da ở trẻ sơ sinh
Hỏi: Em gái tôi vừa sinh con được 2 ngày tuổi. Quan sát kỹ bé tôi thấy có nhiều nốt sần sùi trên mặt và da có màu hơi ngả vàng. Tôi nghe nói nếu bị vàng da nặng em bé có thể bị tổn thương não không phục hồi…

Tuy nhiên, những người lớn tuổi khẳng định, em bé nào sinh ra cũng vậy, chỉ vài ngày là khỏi. Vậy xin hỏi, có dấu hiệu sớm nào để phân biệt giữa vàng da sinh lý và vàng da bệnh lý để chúng tôi có thể kịp thời đưa bé đi khám?

Bác sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi (BV Bạch Mai) trả lời:

Đúng là ở trẻ sơ sinh, hiện tượng vàng da rất phổ biến. Hầu hết trẻ sơ sinh sau sinh từ 2 – 3 ngày là bị vàng da, sau đó mức độ tăng dần cho đến ngày thứ 7 – 10 rồi hết. Nguyên nhân là do các hồng cầu trong máu bị vỡ quá nhanh, chuyển hoá thành Bilirubin – một chất có sắc tố màu vàng. Bilirubin càng nhiều trong máu, mức độ vàng da càng nặng hơn.

Với vàng da sinh lý, chất Bilirubin ở giới hạn thấp nên không gây ảnh hưởng gì tới sức khỏe của trẻ. Còn với vàng da bệnh lý, chất bilirubin vượt qua giới hạn cho phép, gan không đào thải kịp, bilirubin có nguy cơ thấm vào não (vàng da nhân) gây tổn thương não không hồi phục được. Vì thế, nếu xác định vàng da bệnh lý phải điều trị trước 7 ngày sau sinh để phòng nguy cơ tổn thương não.

Việc phân biệt được vàng da sinh lý và bệnh lý có ý nghĩa rất quan trọng, nhưng ranh giới giữa bệnh lý và sinh lý rất mong manh. Vậy nên, cha mẹ cần quan sát kỹ trẻ với các dấu hiệu sau:

– Hầu hết trẻ sơ sinh sau 2 – 3 ngày là bị vàng da sinh lý, còn nếu bị vàng da trong 1- 2 ngày sau sinh thì gần như 80 – 90% là vàng da bệnh lý. Còn trẻ sơ sinh sau ngày thứ 3 mới bị vàng da thì ít nguy hiểm hơn nhưng vẫn phải luôn quan sát để ý. Đặc biệt phải quan tâm đến vàng da ở trẻ sinh non vì não của những trẻ này chưa hoàn thiện nên dù lượng bilirubin dù thấp hơn ngưỡng cho phép thì đã phải chiếu đèn điều trị.

– Trẻ sẽ bị vàng da toàn thân, nhưng quan sát bằng mắt thường thì vàng da biểu hiện ở phần đầu nhiều nhất. Nếu chỉ vàng da ở trên đầu, nói chung là mức độ nhẹ. Nhưng nếu thấy vàng da ở bụng, rồi xuống tới chân thì mức độ bệnh đã rất nặng, cần phải đưa trẻ tới bác sĩ chuyên khoa nhi để được khám, xác định. Tốt nhất, thấy da vàng rõ ràng đến phần ngực, bụng thì cần đưa bé tới viện ngay.

Để phát hiện vàng da sớm, nên cho trẻ nằm ở phòng đủ ánh sáng tự nhiên, thường xuyên bế trẻ ra chỗ sáng để kiểm tra da toàn thân. Cũng có thể kiểm tra độ vàng da khi tắm cho trẻ, nhưng cần lưu ý kiểm tra trước khi cho bé xuống nước. Với trẻ sơ sinh, do da trẻ đỏ hồng hoặc đen khó nhận biết nên có thể dùng mẹo, lấy một ngón tay đè xuống vùng da của bé để làm giãn các mạch máu. Sau khi bỏ tay lên, vùng da đó trắng thì không sao, còn nếu thấy hơi có màu vàng thì cần theo dõi….

– Nếu trẻ vàng da chỉ ở phần đầu, nhưng là trẻ sinh non, hoặc vàng da phần đầu, ngực nhưng lại có các triệu chứng nôn trớ, bú khó khăn, bú kém, hay quấy, khóc, ngủ li bì hay có bất cứ những dấu hiệu nghi ngờ khác thì hãy đưa trẻ đi khám ngay lập tức. Mức độ nặng hơn trẻ có thể bị co giật, li bì, hôn mê, bỏ bú nhưng thường ít số. Đây là những biểu hiện sớm cho thấy vàng da đã có thể ảnh hưởng đến não.

Các bà mẹ luôn cần ghi nhớ, giữa ngưỡng vàng da sinh lý đến bệnh lý rất mong manh. Hơn nữa, có những bé dù không có triệu chứng của vàng da, không nôn, vẫn chơi bình thường nhưng chất Bilirubin đã thấm vào não. Vì thế, có điều kiện, tốt nhất cho con tới viện khám để được lấy máu kiểm tra. Nếu bilirubin đến ngưỡng quy định bé sẽ được chiếu đèn điều trị. Được điều trị đúng cách, trẻ sẽ hết vàng da và không để lại bất cứ di chứng gì cho sức khoẻ của trẻ sau này.

Rõ ràng bệnh vàng da ở trẻ sơ sinh rất là thường gặp nhưng không phải ai cũng có khả năng phân biệt được bệnh vàng da sinh ly và vàng da bệnh lý. Hãy cùng mecuteo.net tham khảo những nguyên nhân, cách phân biệt khi trẻ sơ sinh bị vàng da để nhanh chóng có những phương án xủ lí chính xác nhất tránh để lại những hậu quả đáng tiếc xảy ra.

Triệu chứng và cách điều trị sốt xuất huyết ở trẻ em tại nhà khoa học

Mùa mưa ẩm ướt chính là thời điểm tốt nhất để dịch sốt xuất huyết bùng phát và lan truyền nhanh chóng.Sức đề khánh của các em bé còn rất yếu nên rất dễ bị mắc bệnh, đồng thời các biến chứng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe sau này của bé thậm chí dẫn đến tử vong. Bằng cách trang bị kiến thức về các triệu chứng sốt xuất huyết ở trẻ em sẽ giúp các bậc cha mẹ nhanh chóng phát hiện bệnh từ đó có những biện pháp điều trị chính xác, nhanh chóng và khoa học.

Triệu chứng và cách điều trị sốt xuất huyết ở trẻ em tại nhà khoa học

Sốt xuất huyết dengue (dengue hemorrhagic fever, DHF hay Sốt dengue (dengue fever, DF, đọc là đăng-gi) , tại Việt Nam thường được gọi chung là bệnh sốt xuất huyết, có biểu hiện nặng nhất của bệnh là hội chứng sốc dengue (dengue shock syndrome, DSS) được gây ra do Dengue virus (chi Flavivirus, họ Flaviviridae).

Virus này có 4 chủng huyết thanh khác nhau là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Bệnh nhân nhiễm với chủng virus nào thì chỉ có khả năng tạo nên miễn dịch suốt đời với chủng virus đó mà thôi. Chính vì vậy mà những người sống trong vùng lưu hành dịch dengue có thể mắc bệnh sốt xuất huyết nhiều hơn một lần trong đời. Sốt dengue và sốt xuất huyết dengue chủ yếu là bệnh ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nhiễm virus dengue gây nên triệu chứng lâm sàng khác nhau tùy từng cá thể. Bệnh có thể chỉ biểu hiện nhưmột hội chứng nhiễm virus không đặc hiệu hoặc bệnh lý xuất huyết trầm trọng và đưa đến tử vong . Trong bài này, thuật ngữ dengue được sử dụng để chỉ chung cho ba thể bệnh nêu trên. Khi nói đến từng thể riêng biệt thì tên chính xác của thể bệnh đó sẽ được sử dụng.

Có thể nói dengue là một bệnh do virus lây truyền do muỗi thường gặp nhất ở người. Trong những năm gần đây bệnh đã trở thành mối quan ngại lớn đối với sức khỏe cộng đồng trên bình diện quốc tế. Trên toàn thế giới có khoảng 2,5 tỷ người hiện đang sống trong vùng có lưu hành bệnh. Sự lan tràn về mặt địa lý của cả véc tơ truyền bệnh (muỗi) và virus đã đưa đến sự tăng cao tỷ lệ bệnh trong vòng 25 năm qua cũng như khả năng xuất hiện dịch do nhiều chủng huyết thanh khác nhau ở các đô thị trong vùng nhiệt đới

Những nguyên nhân sốt xuất huyết ở trẻ em

Những nguyên nhân sốt xuất huyết ở trẻ em - Triệu chứng và cách điều trị sốt xuất huyết ở trẻ em tại nhà khoa học

  1. Do siêu vi trùng Dengue gây ra
  2. Do muỗi vằn hút máu người mắc bệnh mang đến cho người lành. Đây là nguyên nhất phổ biến và dễ tạo thành dịch nhất

Triệu chứng bệnh sốt xuất huyết ở trẻ

Triệu chứng bệnh sốt xuất huyết ở trẻ - Triệu chứng và cách điều trị sốt xuất huyết ở trẻ em tại nhà khoa học
Đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính và có thể xảy ra đối với tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, nhưng trẻ em từ 3 đến 10 tuổi là đối tượng dễ mắc bệnh nhất. Sau đây là các biểu hiện của bệnh:

  1. Đối với trẻ nhỏ: Trẻ thường sốt cao, sốt đột ngột, sốt từ 38 – 39 độ, nhưng thường không đi kèm theo các triệu chứng như ho, sổ mũi. Khi cho trẻ uống thuốc hạ sốt thì chỉ có tác dụng trong vài giờ
  2. Có dấu hiệu xuất huyết, xuất hiện các chấm đỏ trên mặt, da
  3. Chảy máu cam
  4. Nôn mửa
  5. Đi ngoài ra máu
  6. Có thể đau bụng, đau dữ dội, đau ở vùng dưới sườn bên phải
  7. Với trẻ lớn hơn thì cũng có dấu hiệu sốt nhưng sốt nhẹ, đau đầu, nhức mắt, đau khớp, nhức mỏi toàn thân và cũng có các dấu hiệu xuất huyết

Cách điều trị sốt xuất huyết

Khuyến khích trẻ uống nước

  1. Khi sốt trẻ dễ bị mất nước, cùng với triệu chứng mệt mỏi, kém ăn, kém uống làm cho trẻ dễ thiếu nước thêm, vì vậy chúng ta nên chú ý cho trẻ uống thật nhiều nước. Lượng nước dùng đối với trẻ dưới 5 tuổi khoảng 500-1.500ml trong ngày, trẻ trên 5 tuổi khoảng 2.000 đến 2.500ml trong ngày. Tất cả các loại nước mà trẻ thích đều dùng được như nước cam, nước dừa, nước chanh, nước suối, nước sôi để nguội. Nên thay đổi các loại nước khác nhau để trẻ không thấy chán.
  2. Không nên cho trẻ uống những loại nước có màu đỏ, nâu, đen hoặc có ga như nước xá xị, nước trái cây sậm màu, nước củ dền, dưa hấu vì sẽ khó nhận biết giữa chảy máu ở bao tử có màu nâu đỏ và nước trái cây khi trẻ có nôn ói.
  3. Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu như cơm nhão, cháo, súp. Tránh ăn những thức ăn quá nhiều dầu mỡ trẻ sẽ thấy đầy bụng khó tiêu. Không ăn huyết heo, huyết vịt vì trẻ sẽ đi tiêu phân có màu đen, dễ lầm tưởng bị xuất huyết tiêu hoá.

Điều trị bằng thuốc Tây

  1. Không có thuốc điều trị đặc hiệu của bệnh SXH. Chỉ có thuốc hạ sốt và một ít thuốc bổ được thầy thuốc cho bệnh nhân dùng tại nhà. Thuốc hạ sốt chỉ dùng loại không ảnh hưởng xấu đến dạ dày hoặc làm tăng nguy cơ chảy máu. Thuốc dùng an toàn là Paracetamol, sử dụng liều lượng theo hướng dẫn, ngày dùng khoảng 4 lần khi bệnh nhân có sốt. Kết hợp với lau nước ấm nếu bệnh nhân sốt quá cao trên 39 độ C.
  2. Các thuốc hạ sốt như Ibufrophen, Aspirin không được dùng, vì rất có hại trong bệnh nhân bị SXH.
  3. Tái khám hàng ngày, có khi nhiều lần trong ngày, tuân thủ thực hiện các lời dặn của thầy thuốc, không nên tự ý ngừng tái khám, vì có những trường hợp các cháu hết sốt là biểu hiện của bệnh SXH đang trở nặng.
  4. Có 5 dấu hiệu trẻ trở nặng, các bà mẹ cần nhận biết sớm để đưa con đến bệnh viện ngay: Lừ đừ, li bì hoặc bứt rứt, ói nhiều, đau bụng nhiều, xuất huyết, tay chân mát, lạnh.
  5. Chỉ cần có 1 trong 5 dấu hiệu trên thì phải đến bệnh viện gần nhất. Thực tế trong những trường hợp bệnh có dấu hiệu trở nặng, các bà mẹ hay bỏ qua, tưởng cháu bị đau bao tử hay ăn không tiêu nên tiếp tục để tại nhà, khi đưa vào bệnh viện thì đã quá muộn, điều trị khó khăn vô cùng.
  6. Điều trị SXH là sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình bệnh nhân và thầy thuốc, trong đó vai trò của người chăm sóc trực tiếp các cháu nói chung, của bà mẹ nói riêng là hết sức quan trọng góp phần bảo vệ sức khoẻ của các cháu một cách tốt nhất.

Cách phòng ngừa sốt xuất huyết ở trẻ

Cách phòng ngừa sốt xuất huyết ở trẻ - Triệu chứng và cách điều trị sốt xuất huyết ở trẻ em tại nhà khoa học

  1. Không cho trẻ hoạt động dưới các nơi có môi trường tối tăm, ẩm thấp, ao tù nước đọng.
  2. Nên buông màn khi ngủ cả ngày lẫn đêm để tránh muỗi
  3. Dùng 1 số biện pháp diệt muỗi như: sử dụng bình xịt, thắp nhang muỗi, phun thuốc chống muỗi…
  4. Đậy kín các nơi có nước như lu, vại… đây là nơi giúp muỗi có điều kiện sinh sản và phát triển
  5. Phát quang bụi râm
  6. Vệ sinh nơi ở sạch sẽ, thoáng mát

Phòng bệnh hơn chữa bệnh, các bậc cha mẹ nên tích cực phòng ngừa cho trẻ. Nếu như có các triệu chứng như mecuteo.net đã nêu ở trên thì việc cần làm là nhanh chóng xử lí tạm thời và đưa đến bác sĩ, trung tâm y tế để khám bệnh cho chính xác. Hi vọng rằng các bậc cha mẹ đã trang bị đủ cho mình kiến thức về các biểu hiện triệu chứng bệnh sốt xuất huyết ở trẻ và nuôi con luôn khỏe mạnh.

Nguyên nhân trẻ sơ sinh nôn trớ sữa và cách xử lí cha mẹ bé phải biết

Trẻ sơ sinh bị nôn trớ sữa là điều rất hay xảy ra mà tất cả các bậc cha mẹ đều quan tâm khi chăm sóc cho bé. Nguyên nhân nào gây nên hiện tượng nôn trớ , liệu nó có ảnh hưởng đến sức khỏe của em bé hay không. Hãy cùng mecuteo.net tìm hiểu những cách xử lí khi bé nôn trớ để phát hiện xem đó là điều bình thường hay là biểu hiện của bệnh lí để từ đó nhanh chóng cho bé đi khám bác sĩ các mẹ nhé.
Nguyên nhân trẻ sơ sinh nôn trớ sữa và cách xử lí cha mẹ bé phải biết

Nôn trớ sữa ở trẻ sơ sinh như thế nào là bình thường?

Nôn trớ là hiện tượng phổ biến trong những tuần đầu sau sinh, khi bé vừa ăn xong hay bé vặn người. Bé chớ ra sữa vón cục và điều này có thể làm bé sợ, khóc nhiều hơn.

Có rất nhiều nguyên nhân khiến bé trớ, từ việc đi xe ô tô đến rối loạn tiêu hoá, thậm chí khóc hay ho kéo dài cũng có thể kích thích phản xạ này. Và đây là lý do vì sao trẻ thường nôn trớ nhiều trong những năm đầu tiên sau khi chào đời.

Nôn trớ thường tự hết sau 6 – 24 giờ mà không cần phải áp dụng bất kỳ cách điều trị đặc biệt nào.

Miễn là bé vẫn khỏe mạnh và tiếp tục lên cân thì bạn không cần phải lo lắng về hiện tượng này.

Nôn trớ ở trẻ thế nào là bệnh lí cần phải chú ý

Nôn trớ ở trẻ thế nào là bệnh lí cần phải chú ý- Nguyên nhân trẻ sơ sinh nôn trớ sữa và cách xử lí cha mẹ bé phải biết
Trong những tháng đầu tiên sau sinh, hiện tượng nôn trớ có thể là biểu hiện của một vấn đề nào đó liên quan đến ăn uống chẳng hạn như ăn quá no. Sau thời kỳ này, nguyên nhân có thể là do một loại vi rút dạ dày.

Đôi khi, dù rất hiếm, nôn trớ ít khi là biểu hiện của một tình trạng viêm nhiễm nào đó ở hệ hô hấp, tiết niệu hay thậm chí là tai.

Bé càng lớn mà tình trạng nôn trớ càng nghiêm trọng thì đừng do dự, hãy đưa bé tới bác sĩ ngay. Dưới đây là một số dấu hiệu cảnh báo cần tới bệnh viện ngay:

  1. Đau bụng quằn quại
  2. Bụng trướng
  3. Lơ mơ hay ở trạng thái kích thích
  4. Co giật
  5. Liên tục nôn trớ hay tiếp tục nôn trớ trên 24 tiếng
  6. Có dấu hiệu cơ thể bị khử nước như miệng khô, ít nước mắt, ít đi tiểu (thay ít hơn 6 tã lót/ngày)
  7. Xuất hiện máu hay mật (màu xanh) khi nôn trớ

Một chút máu tươi khi nôn trớ thường không đáng lo ngại bởi đó là do các mao mạch ở thực quản bị xước khi phản xạ nôn quá mạnh.

Cũng có thể có xuất hiện tia đỏ trong dịch nôn nếu bé nuốt máu từ vết thương nào đó ở miệng hoặc bị chảy máu cam trong vòng 6 tiếng trước đó. Vì thế bạn chỉ nên gọi bác sĩ nếu bé tiếp tục nôn trớ có lẫn máu trong những lần sau với số lượng tăng dần. Riêng với tình trạng nôn có màu xanh thì cần đưa bé đi khám ngay.

Bạn cần giữ lại chút dịch nôn trớ có lẫn máu hay mật xanh để đưa bác sĩ xem.

Nôn trớ không ngừng trong tháng đầu tiên sau sinh, cứ ăn xong là nôn trớ

Đây có thể là do chứng hẹp môn vị, một nguyên nhân hiếm gặp gây nôn trớ mà thường bắt đầu 1 vài tuần sau khi bé chào đời cho tới tận khi bé 4 tháng tuổi.

Môn vị là một cơ vòng nối liền dạ dày với đoạn đầu của ruột non. Nếu cơ vòng này bị dày lên sẽ ngăn cản sự di chuyển các chất trong bộ máy tiêu hóa từ dạ dày xuống ruột. Sữa hoặc các thực phẩm khác bị ứ tắc ở đây sẽ dội lại phía thực quản và gây ra nôn ói.

Chỉ cần một tiểu phẫu là vấn đề sẽ được giải quyết. Tuy nhiên, các bậc cha mẹ cần đưa bé tới bệnh viện nhi ngay khi thấy triệu chứng trên.

Một lưu ý là cha mẹ không nên quá căng thẳng về hiện tượng này ở trẻ. Mỗi đứa trẻ đều sẽ nôn trớ ít nhiều trong giai đoạn sau khi chào đời và thường không ảnh hưởng gì tới sức khoẻ cũng như sự phát triển của trẻ ngoại trừ làm bẩn bộ quần áo mới. Hãy nhớ nôn trớ là một phần không thể thiếu trong giai đoạn mới làm cha mẹ.

1.Trẻ bị nôn trớ nhiều phải làm sao?

Nôn trớ ở bé có thể do dị ứng sữa, hẹp môn vị, viêm dạ dày… Khi bé nôn trớ, cơ thể bé sẽ mất một số lượng chất lỏng nhất định. Vì thế, điều quan trọng là phải bổ sung lại lượng chất lỏng đã mất này để cơ thể bé không bị khử nước. Cách đơn giản nhất là uống nước oserol, nước lọc, nước quả.

Dưới đây là một số khuyến nghị:

  1. Khi bé ngừng nôn trớ, hãy cho uống một lượng nhỏ nước lọc hoặc nước điện giải sau mỗi 30 phút đến 1 tiếng.
  2. Nếu bé tiếp tục trớ thì cần cho uống luân phiên 50ml nước oserol/ 50ml nước lọc sau mỗi nửa giờ.
  3. Sau khi cho bé uống loại nước này mà bé không nôn trớ nữa thì cho bé bú mẹ hoặc bú bình, tăng dần số lượng từ 80 – 100ml sau mỗi 3 – 4 giờ.
  4. Nếu bé không nôn trớ từ 12 – 24 giờ thì có thể cho bé ăn uống bình thường nhưng vẫn cho bé uống nhiều nước. Bắt đầu với những thực phẩm dễ tiêu hoá như ngũ cốc hay sữa chua. Bạn cũng có thể cho trẻ uống nước lạnh nếu bé trên 12 tháng tuổi.
  5. Đi ngủ cũng giúp bé nhanh hồi phục do dạ dày trống rỗng trong suốt thời gian này sẽ giúp bé dễ chịu hơn. Đừng cho trẻ dùng bất kỳ loại thuốc chống nôn trớ nào trừ khi được bác sĩ cho phép.

2.Trẻ sốt nhẹ kèm tiêu chỉ khi nôn trớ

Nguyên nhân có thể là: Chứng viêm dạ dày – một trong những bệnh dạ dày phổ biến ở bé 6-24 tháng tuổi (hoặc ở mọi lứa tuổi). Viêm dạ dày có thể gây ra bởi virus rota, bé dễ bị lây từ những bé khác. Theo thống kê, có đến 4/5 số bé bị nhiễm virus rota dưới tuổi lên 5.

Các triệu chứng tiêu chảy, nôn kéo dài 1-2 ngày hoặc lâu hơn (3-5 ngày). Trường hợp nặng, bé phải nhập viện vì sốt và mất nước do tiêu chảy.

Sau khi bé đã ngừng nôn trớ, có thể cho bé một thìa cafe sữa khoảng vài phút một lần, trong một tiếng đồng hồ. Thực phẩm lỏng và nước bù điện giải cũng tốt cho bé bị tiêu chảy gây mất nước.

Nên đưa đi khám nếu bé tiêu chảy nặng, kéo dài, bé bị mất nước (khô lưỡi hoặc môi, tiểu ít, thóp trũng).

3.Trẻ nôn trớ ngay sau khi bú mẹ hoặc bú bình

Nguyên nhân có thể là: Hẹp môn vị – Cơ van giữa dạ dày và ruột dày lên. Thông thường, van này có độ rộng tương đương một cây bút chí nhưng khi cơ van này dày lên thì nó sẽ bị hẹp lại. Hẹp môn vị còn có thể khiến bé bị nôn thành vòi rồng.

Nếu bé sơ sinh nôn ngay sau khi bú, bạn nên đưa con đi khám sớm. Bác sĩ sẽ kiểm tra cho bé và bé có thể được phẫu thuật đơn giản để mở rộng cơ van này. Thường sau 2 ngày phẫu thuật, bé có thể trở về nhà.

4.Phát ban kèm nôn trớ

Nguyên nhân có thể là: Nếu bé nôn nhiều lần sau khi ăn, kèm nổi ban quanh miệng, cổ, sau đầu gối hoặc khuỷu tay, bé có thể bị dị ứng với sữa công thức hoặc thực phẩm như dâu tây, chocolate, lạc…

Cho bé đi khám ngay nếu bé khó thở, sưng miệng. Một phẩn ứng dị ứng nặng có thể khiến bé tử vong nếu không được can thiệp kịp thời.

Để giảm nguy cơ dị ứng, bạn nên cho con ăn dặm khi bé được 6 tháng. Chờ cho đến khi bé đủ một tuổi mới cho ăn sữa bò. Có thể hỏi bác sĩ về thời gian bé tập ăn các món nhất định. Khi cho bé ăn một món mới, nên kiểm tra phản ứng trong vài ngày rồi mới cho ăn món mới khác.

5.Trẻ nôn trớ kèm máu

Nguyên nhân có thể do: Bất ổn ở dạ dày, như nhiễm khuẩn dạ dày khiến các mạch máu ở đó bị vỡ hoặc các mô trong dạ dày bị tổn thương do bé phải nôn gắng sức.

Cần cho bé đi khám ngay nếu bé bị nôn kèm máu. Không được tự ý dùng bất kỳ loại thuốc nào cho con.

6.Trẻ em nôn ra dịch vàng xanh

Nguyên nhân có thể do: Dịch vàng xanh có thể do mật, gan bài tiết hoặc do dị tật bẩm sinh đường tiêu hóa, nghẽn phân su hoặc xoắn ruột.

Ở trường hợp này, bạn cần đưa con đi khám ngay vì nôn ra dịch vàng xanh là một trường hợp khẩn cấp. Bé có thể cần được phẫu thuật để khắc phục sự cố.

7.Trẻ nôn kèm sốt, gào hét thường xuyên

Nguyên nhân có thể do: Vi khuẩn viêm màng não, nhiễm trùng não. Nên cho bé tiêm phòng Hib để ngăn ngừa viêm màng não.

Nên cho bé đi khám ngay néu bé nôn, sốt, dễ bị kích thích hoặc bé nôn kèm cứng cổ, đau đầu.

8.Đau bụng quằn quại kèm theo nôn trớ

Nguyên nhân có thể do: Viêm ruột thừa (phổ biến hơn ở bé trên 10 tuổi). Ban đầu, bé bị đau nhẹ quanh rốn. Sau đó, cơn đau di chuyển đến dưới bên phải của bụng. Nếu không được cấp cứu, ruột thừa sẽ bị vỡ khiến chất độc lan khắp khoang bụng, gây tử vong.

Những gguyên nhân gây nôn trớ ở trẻ

Hiện tượng nôn trớ ở trẻ sơ sinh khá phổ biến, tuy nhiên lại ít bà mẹ biết nguyên nhân nào khiến trẻ bị nôn trớ như vậy.

Thứ nhất: Thức ăn quá nhiều

Nguyên nhân phổ biến khiến trẻ hay bị nôn trớ chính là do thói quen ăn uống. Khi trẻ sơ sinh bú mẹ, phản xạ nuốt sẽ xảy ra một cách tự nhiên. Tuy nhiên do khoang miệng của trẻ nhỏ nên nếu lượng sữa quá nhiều sẽ khiến trẻ gặp khó khăn trong quá trình hô hấp. Bởi vậy nên phản ứng của cơ thể sẽ là nôn ra những gì trẻ vừa ăn được.

Một điều khác nữa, đó chính là dạ dày của trẻ không lớn và chưa phát triển hoàn thiện, khi trẻ ăn quá nhiều, hoặc nằm ngửa khi ăn cũng có thể gây nôn trớ. Đối với những trẻ bú bình, lỗ trên núm vú quá nhỏ khiến trẻ phải dùng nhiều lực để hút cũng sẽ gây nôn trớ.

Thứ 2: Nôn sinh lý

Thực quản của trẻ sơ sinh tương đối ngắn, vì thế nếu ăn quá nhanh, trẻ sẽ nuốt thêm nhiều khí vào bụng và xảy ra hiện tượng nôn trớ.

Thứ 3: Nhân tố truyền nhiễm

Trẻ sơ sinh rất dễ bị nhiễm trùng đường ruột sẽ khiến trẻ hay có hiện tượng nôn trớ. Tất cả những hiện tượng nhiễm trùng như viêm rốn, nhiễm trùng da, viêm màng não, nhiễm trùng máu… cũng có thể gây ra rối loạn tiêu hóa và khiến trẻ có phản xạ ói mửa.

Thứ 4: Trẻ nuốt nước ối

Hiện tượng trẻ nuốt phải nước ối khi còn ở trong bụng mẹ là khá phổ biến. Khi đó, trẻ sơ sinh sẽ nôn ra chất nhầy có bọt. Lúc này không nên cho trẻ ăn ngay để tránh phản xạ của cơ thể là tiếp tục nôn.

Thứ 5: Phản ứng thuốc

Trẻ sơ sinh thường phản ứng mạnh với những thuốc có vị đắng, chính vì thế hiện tượng ói mửa của trẻ khi uống thuốc cũng khá phổ biến.

Thứ 6: Trẻ bị táo bón

Bị táo bón cũng có thể khiến trẻ gặp vấn đề về tiêu hóa và trẻ thường sẽ nôn ra những gì mình ăn được trong thời gian này. Các ông bố bà mẹ cũng không nên lo lắng vì khi trẻ đi cầu trơn tru lại thì hiện tượng nôn mửa cũng không còn nữa.

Cuối cùng là do bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh

Nguyên nhân gây nôn mửa có thể là do chảy máu dạ dày, vì thế khi trẻ nôn lúc này sẽ có màu nâu hoặc đỏ tươi.

Cách xử trí khi trẻ bị nôn trớ sữa nhiều

Cách xử trí khi trẻ bị nôn trớ sữa nhiều - Nguyên nhân trẻ sơ sinh nôn trớ sữa và cách xử lí cha mẹ bé phải biết
Khi trẻ nôn trớ, cha mẹ nên xem trẻ có những biểu hiện nào kèm theo không, ví dụ như sốt hay tiêu lỏng, ho, hay sổ mũi, phát ban v.v…

Nôn trớ đơn thuần thường liên quan đến ăn uống. Hay gặp ở trẻ nhỏ do ép trẻ ăn quá nhiều, bú quá no, nằm liền sau khi bú, hoặc không dung nạp thức ăn hoặc bắt đầu ăn bổ sung với thức ăn mới lạ, hoặc ăn nhiều quá 1 loại thức ăn nào đó. Nôn thường xuất hiện sớm, số lượng chất nôn ít, chủ yếu là thức ăn. Trẻ vẫn chơi bình thường, không ảnh hưởng đến tình trạng cơ thể. Do vậy, chỉ cần điều chỉnh cách cho ăn.

  1. Không ép trẻ ăn nhiều làm cho trẻ ngại khi nhìn thấy thức ăn.
  2. Khi cho 1 loại thức ăn mới nên cho từ ít đến nhiều, từ lỏng đến đặc, chia làm nhiều bữa nhỏ trong ngày .
  3. Ở những trẻ bú mẹ thì sau khi bú xong nên bế trẻ 10-15 phút rồi mới đặt trẻ nằm.
  4. Khi cho trẻ bú bình lưu ý sao cho sữa ngập núm vú bình để tránh nuốt không khí vào dạ dày.
  5. Ngoài ra có thể sử dụng thuốc chống nôn theo chỉ định của bác sĩ.

Nôn do bệnh tật: Hay gặp trong các bệnh nhiễm khuẩn tiêu chảy, viêm mũi họng, viêm phổi, viêm màng não… một số bệnh ngoại khoa như lồng ruột, tắc ruột, viêm ruột non hoại tử…

Trẻ nôn đột ngột và kèm theo các triệu chứng đặc hiệu của từng bệnh. Cần đưa trẻ đến khám ở cơ sở y tế để xử trí kịp thời.

Khi bé nôn nhiều cũng giống như đi tiêu lỏng , bé sẽ mất một lượng nước khá lớn. Do đó quan trọng là phải bổ sung lượng nước đã mất để cơ thể bé không mất chất điện giải. Tại nhà ta có thể dùng dung dịch Oresol, nước chín hay nước trái cây loãng.

Khi bé nôn nhiều, đừng cố gắng cho bé tiếp tục uống mà cần thực hiện các biện pháp sau:

Lưu ý: tư thế khi bé nôn nên để bé nằm nghiêng hoặc đỡ bé ngồi dậy , đề phòng khi bé nôn, chất nôn sẽ tràn vào khí quản , gây sặc rất nguy hiểm. Đã từng có trường hợp bé nôn trớ khi nằm ngữa , chất nôn tràn vào phổi gây ngừng thở, đến khi người nhà phát hiện đưa bé vào viện thì bé đã tím tái , không còn cứu chữa được.

Khi đã lưu ý tư thế, thì nên chờ cho bé bớt nôn trớ, hãy cho uống một lượng nhỏ nước chín hoặc dung dịch Oresol, bé bị mất nước nhiều nên sẽ khát, khi đưa nước bé sẽ có khuynh hướng uống nhiều, sau đó sẽ nôn thốc tháo, do đó nên cho uống bằng muỗng nhỏ hoặc từng ngụm một .

Nếu bé tiếp tục nôn nhiều, nên đưa bé đi khám. Nếu bé bớt nôn trớ thì cần cho uống luân phiên 50ml dung dịch Oresol và 50ml nước chín sau mỗi nửa giờ. Sau khi cho bé uống loại nước này mà bé không nôn trớ nữa thì cho bé bú sữa mẹ hoặc bú bình, tăng dần số lượng từ 80 – 100ml sau mỗi 3 – 4 giờ. Nếu bé không nôn trớ từ 12 – 24 giờ thì có thể cho bé ăn uống bình thường, nhưng vẫn cho bé uống nhiều nước. Bắt đầu với những thực phẩm dễ tiêu hoá như ngũ cốc hay sữa chua.

Nên nhớ khi bé nôn nhiều tức là bộ phận tiêu hóa đang có vấn đề cần nên nghỉ ngơi cho nên phụ huynh chỉ nên cho bé uống nước để không bị mất nước, đừng nên cố gắng ép ăn, không giúp được bé mà còn làm tăng triệu chứng và bé càng quấy khóc nhiều hơn.

Giúp trẻ ngủ sẽ làm cho bé nhanh hồi phục hơn, vì dạ dày trống trong suốt thời gian này sẽ giúp bé dễ chịu hơn. Không cho bé dùng bất kỳ loại thuốc chống nôn nào khi chưa được sự cho phép của bác sĩ.

Trường hợp trẻ nôn trớ kéo dài hoặc nôn do bệnh lý mà trẻ có biểu hiện các triệu chứng như: sốt, đau bụng, lơ mơ, co giật, hay nôn ói liên tục, có dấu hiệu mất nước như: miệng khô, ít nước mắt, tiểu ít,… thì cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế để được chữa trị kịp thời.

Trường hợp trẻ bị sặc, đừng cố lấy tay móc thức ăn hay chất nôn ra, nên làm nghiệm pháp Heimlich ở trẻ lớn, đứng sau lưng trẻ, quàng 2 tay ra ôm lấy bụng trẻ và ấn mạnh vào, áp lực mạnh sẽ làm trẻ nôn ói ra dị vật đường thở. Ở trẻ nhỏ hơn thì nên để nằm sấp trên đùi chúng ta và vỗ mạnh vào lưng trẻ như hình vẽ. Dị vật , chất nôn sẽ được tống ra.

Sau khi tống chất nôn ói ra được nếu bé còn mệt thì nên đưa bé đến cơ sở y tế gần nhất.

Nguyên nhân trẻ sơ sinh nôn trớ sữa và cách xử lí cha mẹ bé phải biết phần 4

Rõ ràng nôn trớ sữa ở trẻ sơ sinh rất là thường gặp nhưng làm thế nào để nhận biết được đó là điều bình thường hay là biểu hiện của bệnh lí đó mới là điều quan trọng. Với những thông tin mà mecuteo.net đã cung cấp ở trên hi vọng rằng các bậc cha mẹ đã hiểu rõ hơn về nguyên nhân và cách xử lí khi trẻ bị nôn trớ sữa.

Hải sản ướp hóa chất đạm urê và thuốc tẩy javel gây bệnh

Hải sản ướp hóa chất đạm urê và thuốc tẩy javel gây bệnh nếu người dùng ăn phải. Hoá chất đạm urê và thuốc tẩy javel được cho là hoàn hảo để bảo quản và tẩy trắng hải sản vì chi phí rẻ, hiệu quả cao nhưng có thể gây bệnh làm ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng. Để giúp người dùng hiểu hơn về vấn đề an toàn thực phẩm hải sản tươi sống, mời các bạn tham khảo thông tin trong bài viết dưới đây của mecuteo.net để có thêm nhiều thông tin bổ ích nhất nhé.

Chị Trương Thị Hà, nhà ở đường Lê Trực, quận Bình Thạnh (TP.HCM) cho biết, cả năm nay chị không dám mua cá, mực ở các chợ vì có lần chồng chị ăn trưa xong thì bị dị ứng, chóng mặt và nôn mửa phải đi viện, những thành viên còn lại đều bị tiêu chảy. Nguyên nhân được các bác sĩ cho biết là do món cá nục dưa vì không đảm bảo nên gây ngộ độc.

Hiện giới kinh doanh hải sản có rất nhiều thủ thuật để qua mặt người tiêu dùng. Tráng đạm là công nghệ đơn giản nhất. Với lượng hàng lớn được đánh bắt lâu ngày trên biển, sau khi đưa về bờ toàn bộ cá sẽ được nhúng vào thùng nước đá có pha đạm urea, sau đó vớt ra sạp bán cho khách hàng. Những loại cá vận chuyển lên TP.HCM và các tỉnh xa, đầu nậu phải rắc thêm urea vào trong đá cây, nhờ đó mà 4-5 ngày sau thậm chí cả tuần cá vẫn tươi.

Chúng tôi cũng từng được nghe một giảng viên công nghệ thực phẩm kể, khi thực hiện nghiên cứu kit thử urea ở cá: “Đi chợ càng trưa, chợ chiều dễ mua được cá rẻ nhưng cũng dễ đụng phải cá tẩm hoá chất mà urea, các loại thuốc tẩy là dễ thấy nhất. Urea còn có tính kháng khuẩn và sinh ra nitric tạo màu đỏ cho mang cá, trông rất đẹp, dù bị cấm”.

Hải sản ướp hóa chất đạm urê và thuốc tẩy javel gây bệnh phần 1

TS Lê Quang Trí, phó giám đốc sở Khoa học và công nghệ tỉnh Tiền Giang, giảng viên khoa Công nghệ thực phẩm (đại học Công nghệ Sài Gòn), cho biết để bảo quản thuỷ hải sản trong thời gian dài, công nghệ và quy trình bảo quản theo kiểu công nghiệp đã được nghiên cứu thành công và ứng dụng rộng rãi. Trong đó, nguyên liệu sau sơ chế cần làm lạnh đông nhanh (cấp đông), thông thường ở nhiệt độ -350C cho đến khi nhiệt độ tâm sản phẩm đạt -180C (các nhà máy thuỷ sản tại Việt Nam đang áp dụng quy trình công nghệ này). Các tàu cá đánh bắt lớn hiện đại cũng áp dụng quy trình này cho sản phẩm của họ sau đánh bắt.

Ông Trí lý giải: “Mục đích của việc làm lạnh nhanh trong hầm cấp đông là làm cho nước trong thuỷ hải sản biến thành tinh thể đá rất nhanh với kích thước đá rất nhỏ, không làm phá hỏng cấu trúc thịt cá khi rã đông. Các vi sinh vật và enzyme nội tại trong cá không bị ức chế, không thể phân huỷ cá, do đó chất lượng sản phẩm rất ít thay đổi trong thời gian bảo quản”.

Còn các tàu, ghe nhỏ không có điều kiện đầu tư hệ thống cấp đông trên sẽ đem theo nước đá và muối hoặc urea để ướp hải sản, chúng vẫn trông rất tươi khi bảo quản theo phương pháp này. Khi trộn nước đá và muối với nhau, nhiệt độ của hỗn hợp có thể giảm xuống đến -180C, tuỳ vào tỷ lệ muối và đá. Ở nhiệt độ này, hải sản (chẳng hạn cá) được bảo quản tương đối tốt, tuy nhiên không thể bảo quản lâu (chỉ phù hợp với ghe, tàu đi đánh bắt ngắn ngày) ngoài ra cá có thể bị ngấm muối và bị mặn.

Ngoài phương pháp dùng urea, dùng thuốc tẩy javel để ngâm hải sản còn dễ dàng hơn. Đống mực, bạch tuộc lấy từ ghe lên đen thui một màu, nhưng chỉ trong vòng 30 phút là trở nên trắng tươi!

ThS. Lê Thanh Hải, giảng viên khoa Công nghệ sau thu hoạch đại học Hùng Vương TP.HCM, cho biết: bản chất clorin (hay javel) là chất tẩy trắng thuỷ sản, vì có tính oxy hoá mạnh, rất dễ hình thành các gốc tự do, nhờ đó phá huỷ tế bào vi sinh rất nhanh chóng, cũng đồng nghĩa với việc phá huỷ tế bào cơ thể với dư lượng còn sót. Cùng với quá trình tẩy trắng, các chuyển hoá trong tế bào thuỷ sản sẽ hình thành các histamine (sản phẩm trung gian của sự phân hủy đạm) gây độc cho người dùng.

Ông Hải khẳng định: “Nếu urea tích luỹ ở thận dưới dạng tinh thể gây sạn thận, hoặc đi vào chu trình thải đạm amoni của thận gây độc cho tế bào thận gây viêm cầu thận thì javel phá huỷ tế bào người, làm rối loạn trao đổi chất, khó tiêu, stress, lão hoá các tế bào dẫn đến cơ thể già nhanh, nghiêm trọng có thể làm rối loạn các gen tế bào, gây ung thư…”

Với quy mô nhỏ, để bảo quản hải sản tươi lâu, theo các chuyên gia trên, có thể sử dụng các thùng mốp, cho đá và muối vào với tỷ lệ 1:1 (1kg đá, 1kg muối). Phương pháp làm lạnh bằng hỗn hợp sinh hàn (đá, muối) này tương đối an toàn.

Theo đó, nên tạo thùng xốp lạnh có nhiều lớp và nhiệt độ lạnh trước khi bảo quản thuỷ sản, xếp hải sản vào thùng lạnh thật sâu thì bảo quản lâu hơn. Với những người buôn bán nhỏ, hộ gia đình nếu bán không hết, có thể cho vào tủ đông.

“Về bản chất, khi pha urea vào nước, thu nhiệt làm nhiệt độ của nước có thể hạ 200C, từ 300C xuống 100C. Nhiệt độ này cũng hạn chế một phần sự phát triển của vi sinh vật. Tuy nhiên, tác dụng chính của nước urea trong trường hợp này là phủ lên thuỷ hải sản một lớp màng có tính sát khuẩn, ngăn ngừa vi khuẩn phá huỷ từ bên ngoài. Nitric sinh ra từ urea cũng làm cho mang cá đỏ, đẹp. Tuy nhiên urea không ngăn chặn được enzyme nội tại trong cá phân huỷ từ từ bên trong cá. Chính vì vậy, chúng ta có thể kiểm tra cá trước khi mua bằng cách dùng ngón tay đè lên thân cá xem độ chắc của thịt cá”, TS Lê Quang Trí nói.

Với thông tin hải sản ướp hóa chất đạm urê và thuốc tẩy javel gây bệnh trên đây các bạn sẽ có biết thêm nhiều thông tin chăm sóc sức khỏe một cách hoàn hảo đảm bảo an toàn cho gia đình khi chọn các loại thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày. Chúc các bạn luôn khỏe mạnh mỗi ngày và hãy luôn đồng hành ủng hộ cho mecuteo.net để có thêm nhiều thông tin chăm sóc sức khỏe nhé.

Cách tăng cân cho người gầy nhanh nhất hiệu quả an toàn

Cách tăng cân cho người gầy nhanh nhất hiệu quả an toàn giúp những người có thân hình gầy gò sẽ nhanh chóng đạt được cân nặng như mong muốn cải thiện sức khỏe của bản thân.  Nếu bạn đang muốn tăng cân mà vẫn chưa tìm được phương pháp cho bản thân hoặc đã thử nhiều phương pháp mà vẫn không tăng cân được thì hãy sử dụng phương pháp tăng cân dưới đây. Với nguồn gốc tự nhiên giúp hấp thụ chất dinh dưỡng hiệu quả cho bạn tăng cân nhanh chóng đảm bảo an toàn sức khỏe. Hãy cùng mecuteo.net tham khảo cách tăng cân nhanh cho người gầy dưới đây nhé.

Đây là một loại thực vật tự nhiên có chứa đồng thời các chất dinh dưỡng cần thiết nhất cho cơ thể: axit amin thiết yếu, vitamin, chất khoáng, chất xơ, một lượng lớn các hoạt chất sinh học – là các chất chống oxi hóa như Phycocyanin, Clorophyll, … Các chất này kết hợp với các thành phần dinh dưỡng trong tảo:

Giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt, hấp thu được tối đa nguồn thức ăn đưa vào cơ thể, làm cơ thể khỏe mạnh, tự nhiên, lên cân một cách an toàn, hiệu quả

Giúp cơ thể thanh lọc tẩy độc, tăng cường hệ miễn dịch, chống lão hóa, ngăn ngừa được nhiều loại bệnh tật giúp cơ thể đẹp từ bên trong ra đến bên ngoài: làn da, mái tóc.

Giúp bạn có một giấc ngủ ngon và sâu hơn sau một ngày làm việc nhờ Vitamin nhóm B, phenylalanine và tryptophan.

Do đây là thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, cơ thể sẽ săn chắc và khỏe mạnh tự nhiên, hệ miễn dịch được tăng cường nên ít ốm vặt, da và tóc móng đều được cải thiện, sau 3 tháng kiên trì dùng tảo sẽ thấy rõ hiệu quả

Cách tăng cân cho người gầy nhanh nhất hiệu quả an toàn phần 1

Chú ý trước khi bắt đầu liệu trình tăng cân với tảo mặt trời cần tẩy giun sán để chắc chắn cơ thể bạn không bị các con vật “ăn bám” ăn hết chất dinh dưỡng.

Các bước tăng cân nhanh

Bước 1: Tăng cường thanh lọc cơ thể, bồi bổ để tăng cân, uống liên tục trong 40 ngày: Dùng 1 lọ Tảo Mặt Trời tự nhiên dạng viên và 1 lọ Tảo Mặt trời Gold Plus 360v:

Cách uống: 6 viên Tảo Mặt Trời Gold Plus vào buổi sáng, 3 viên Tảo Mặt Trời Gold Plus và 3 viên Tảo Mặt Trời tự nhiên dạng viên vào buổi trưa, 6 viên Tảo Mặt Trời tự nhiên vào buổi tối.

Bước 2: Bồi bổ cơ thể để tăng cân, tiếp tục uống 2 lọ Tảo Mặt Trời tự nhiên và 1 lọ Tảo Mặt trời công thức thanh lọc xanh trong 2 tháng.

Cách uống: 4 viên Tảo Mặt trời công thức thanh lọc xanh vào buổi sáng, 6 viên Tảo Mặt trời tự nhiên vào buổi trưa và buổi tối.

Do đây là thực phẩm hoàn toàn tự nhiên nên việc lên cân sẽ từ từ, cơ thể các bạn sẽ săn chắc và khỏe mạnh tự nhiên, không giống như tăng cân tích nước.

Chế độ ăn uống và lối sống

Ăn uống: Cần ăn đủ ba bữa sáng, trưa, chiều, ăn đúng giờ, nếu thấy đói ăn thêm hai, ba bữa phụ.

Ăn bữa phụ cần chọn món dễ tiêu, kích thích ăn ngon miệng, phù hợp với mỗi cá nhân, không gây no ngang khi đến bữa ăn chính.

Cần tránh ăn vặt suốt ngày vì chúng làm cho các bữa ăn chính không ngon miệng, chỉ thưởng thức quà vặt sau bữa cơm. Nên uống nhiều nước để cơ thể đào thải chất độc ra ngoài cũng như hấp thu dễ dàng dinh dưỡng tự nhiên từ tảo và từ thức ăn.

Ngủ: Bạn cũng phải ngủ đủ từ 7-8 giờ/ ngày, không được thức khuya. Nếu khó ngủ, nên dành một lần uống tảo trước khi đi ngủ hai tiếng, những vi chất trong tảo sẽ giúp hệ thần kinh của ban được giải tỏa, đưa cơn buồn ngủ đến một cách tự nhiên.

Luyện tập, vận động: Tập thể dục ngày 15-30 phút, chú ý tập các động tác bụng để tránh trường hợp béo lên nhưng lại béo ở bụng.

Hy vọng với cách tăng cân cho người gầy nhanh nhất hiệu quả an toàn trên đây các bạn sẽ có một phương pháp cải thiện cân năng của bản thân một cách hiệu quả nhanh chóng nhất. Chúc các bạn luôn xinh đẹp khỏe mạnh với cân nặng hoàn hảo của mình và hãy luôn đồng hành ủng hộ cho mecuteo.net để có thêm nhiều thông tin chăm sóc sức khỏe nhé.

Biến chứng và các cách điều trị viêm gan c

Biến chứng và các cách điều trị viêm gan c
Biến chứng viêm gan c hay gặp phải

15-20% người bị nhiễm viêm gan C tự tiêu diệt được vi rút này mà không bị tổn thương gan. Với số còn lại, bệnh định cư và tấn công gan một cách chậm chạp. Khoảng 85% số người nhiễm HCV bị viêm gan mạn tính. 20% bị xơ gan, thường trong vòng 20 năm đầu sau khi nhiễm. Trong số những người bị xơ gan, một nửa tiến triển thành bệnh gan giai đoạn cuối hoặc ung thư gan.

Viêm gan c, biến chứng và các cách điều trị viêm gan C
Biến chứng và cách điều trị viêm gan C

Các chuyên gia y tế dự báo tử vong do viêm gan C có thể vượt qua số tử vong do AIDS ở Mỹ, Hiện nay, mỗi năm có khoảng 10.000 người chết mỗi năm vì HCV, nhưng con số này ước tính sẽ tăng gấp 3 vào năm 2010. Tuy nhiên, khả năng sống sót là cao. Hiện nay, hơn 99% số người HCV sống.

Điu trị viêm gan c

Chẩn đoán HCV không có nghĩa là bạn phải điều trị. Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) khuyên nên điều trị HCV nếu có:

Xét nghiệm ARN HCV (+), chứng tỏ có vi rút trong máu.

Sinh thiết cho thấy tổn thương gan đáng kể

Tăng nồng độ men gan analin aminotransferase trong máu.

Cho dù vậy, các bác sĩ vẫn đang tranh cãi về đối tượng cần điều trị viêm gan c. Nếu bạn chỉ có bất thường gan nhẹ, bác sĩ có thể quyết định không điều trị vì nguy cơ lâu dài bị bệnh nặng là rất thấp, và tác dụng phụ của điều trị có thể rất nghiêm trọng.

Mặt khác, vì chưa có cách rõ ràng để biết liệu bạn có bị bệnh gan sau đó hay không, bác sĩ của bạn có thể chọn cách chống lại vi rút. Nhiều phương pháp điều trị cải tiến và tỷ lệ thành công cao hơn trong việc chống lại viêm gan đôi lúc khiến bác sĩ nghiêng về những phương pháp tích cực hơn.

Cho tới nay, vũ khí tốt nhất để chống lại viêm gan C là interferon, một thuốc ức chế sự nhân lên của vi rút. Các thuốc interferon dùng để điều trị viêm gan gồm interferon alfa-2b (Intron A), interferon alfa-2a (Roferon-A) và interferon alfacon-1 (Infergen). Nhưng interferon chỉ có tác dụng ở khoảng 20% số trường hợp.

Hiện nay, tiêm interferon thường được phối hợp với uống ribavirin (Virazole) – một thuốc kháng vi rút phổ rộng. Điều trị thường mất từ 6 tháng đến 1 năm và thành công ở khoảng 40% số người bị HCV.

Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy một thuốc khác, interferon pegyl hóa (PEG), có hiệu quả gấp hai lần interferon thông thường. Vào tháng 1 năm 2001, Cơ quan Quản lý Thuốc và Dược phẩm Mỹ (FDA) đã cho phép dùng PEG interferon – peginterferon alfa-2B (PEG-Intron) – để điều trị viêm gan C.

Tác dụng phụ của điều trị thuốc gồm các triệu chứng giống như cúm nặng do interferon và giảm hemoglonbin nhất thời (thiếu máu), giảm bạch cầu hoặc tiểu cầu trong máu. Tác dụng phụ lâu dài – xảy ra ở khoảng một nửa số người điều trị interferon và ribavirin – gồm cực kỳ mệt mỏi, lo âu, dễ kích động và trầm cảm. Có một tỷ lệ nhỏ bị loạn thần hoặc có hành vi tự sát.

Vì lý do này, không nên điều trị bằng interferon nếu có tiền sử trầm cảm nặng bị bệnh tuyến giáp chưa được điều trị, thiếu máu hoặc bị bệnh tự miễn, nghiện rượu hoặc ma tuý.

Không may là, nếu điều trị không có hiệu quả hoặc bạn không thể dung nạp được tác dụng phụ, có rất ít cách lựa chọn khác. Nhưng các nhà khoa học đang nghiên cứu việc sử dụng các chất ức chế protease ở người viêm gan C. Đây cũng là những thuốc điều trị cho người nhiễm HIV. Trong tương lai, cũng có thể điều trị HCV bằng liệu pháp gen.

Nguyên nhân và cách chẩn đoán viêm gan c như thế nào?

Nguyên nhân và cách chẩn đoán viêm gan c như thế nào?
Nguyên nhân gây bệnh viêm gan c 

Nói chung, nguyên nhân gây bệnh viêm gan c thường là do tiếp xúc với máu nhiễm vi rút. Hầu hết bệnh nhân bị nhiễm viêm gan C qua truyền máu trước năm 1992, là năm áp dụng các xét nghiệm sàng lọc máu cải tiến. Có thể cũng nhiễm vi rút do tiêm chích bằng kim tiêm bẩn hoặc hít cocain qua ông hít nhiễm bẩn hoặc ít gặp hơn, là từ kim dùng trong xăm hoặc xỏ lỗ trên cơ thể. Trong một số ít trường hợp, HCV có thể lây qua đường tình dục.

Viêm gan c và các nguyên nhân, chẩn đoán bệnh viêm gan c như thế nào
Nguyên nhân và cách chẩn đoán viêm gan C

Khi nào cn đi khám

Đi khám nếu bạn nghi ngờ có tiếp xúc với vi rút viêm gan C, nếu thấy vàng da và mắt hoặc nếu có các triệu chứng khác của viêm gan.

Nếu bạn đang điều trị viêm gan, hãy đi khám ngay nếu bạn có bất cứ triệu chứng nào sau đây:

–    Ngủ gà, lú lẫn hoặc dễ kích động.

–    Nôn, ỉa chảy hoặc đau bụng.

–    Vàng da tăng.

–    Phát ban ở da.

–    Sốt.

Sàng lọc và chẩn đoán bệnh viêm gan C

Đề nghị bác sĩ khám sàng lọc HCV nếu bạn nghĩ mình đã tiếp xúc với vi rút hoặc có nguy cơ bị bệnh. Nếu bạn được truyền máu trước 1992 từ một người cho mà sau đó người này có xét nghiệm HCV(+), bạn có thể được nhận thư của bệnh viện hoặc ngân hàng máu đề nghị bạn đi khám sàng lọc.

Viêm gan C có thể được chẩn đoán bằng xét nghiệm máu. Ngoài xét nghiệm máu, bác sĩ lập hồ sơ bệnh án và khám thực thể. Bác sĩ cũng có thể khuyên bạn sinh thiết gan, một thủ thuật tương đối ít đau trong đó người ta lấy ra một mẫu nhỏ mô gan để phân tích dưới kính hiển vi.

Trước khi sinh thiết, bạn sẽ được gây tê. Sau đó bác sĩ chọc một kim nhỏ vào gan của bạn để lấy mẫu mô. Sinh thiết gan là an toàn và không gây biến chứng, mặc dù có thể đau hoặc chảy máu một chút sau đó.

Mặc dù sinh thiết không nhất thiết khẳng định chẩn đoán, nó có thể giúp xác định mức độ nặng của bệnh. Nó cũng giúp loại trừ các nguyên nhân khác gây bệnh gan, như viêm gan do rượu hoặc do thuốc, bệnh gan tự miễn hoặc thừa sắt (bệnh nhiễm sắc tố sắt mô bẩm sinh).

Viêm gan C là gì? Dấu hiệu, triệu chứng viêm gan C như thế nào?

Viêm gan C là gì? Dấu hiệu, triệu chứng viêm gan C như thế nào?
Viêm gan C là gì?

Ước tính có 3% dân số thế giới (hơn 170 triệu người) mang một loại vi rút bí ẩn tấn công thầm lặng vào gan mà không biết. Đó là vì có tới 90% số người nhiễm vi rút viêm gan C (HCV) không hề có triệu chứng. Trên thực tế, hầu hết mọi người không biết họ có bệnh cho tới hàng chục năm sau đến khi các xét nghiệm y tế thường qui cho thấy tổn thương gan. Đôi khi người người bệnh biết mình bị viêm gan C khi đi hiến máu, vì hiện nay các ngân hàng máu đã sàng lọc thường qui vi rút này.

Viêm gan C alf gì? dấu hiệu và triệu chứng viêm gan C như thế nào?
Tìm hiểu về bệnh viêm gan C

Gan có trọng lượng từ khoảng 1,2-1,6 kg, là cơ quan phức tạp nhất và lớn nhất trong cơ thể. Nó nằm dưới các xương sườn phải và thực hiện nhiều chức năng quan trọng gồm khử độc, lọc máu và sản sinh nhiều chất dinh dưỡng tối quan trọng.

Vi rus gây viêm gan C là một trong 6 vi rút viêm gan hiện đã được xác định, những vi rút khác là A, B, D, E và G. Tất cả đều khiến gan bị viêm, ảnh hưởng đến chức năng gan. Vi rút gây viêm gan c nằm trong số những vi rút viêm gan nguy hiểm nhất.

Trong nhiều trường hợp, HCV dẫn đến bệnh gan mạn tính như xơ gan, là tình trạng sẹo gan không thể phục hồi và có khả năng gây tử vong, ung thư gan hoặc suy gan.

Nó là nguyên nhân đứng thứ 2 gây bệnh gan sau rượu và là lý do hàng đầu dẫn đến ghép gan tại Mỹ.

Mặc dù viêm gan A và B đã có vaccin, hiện nay chưa có vaccin cho viêm gan C. Ngoài ra, điều trị chuẩn cho HCV không có hiệu quả hoàn toàn, vì vậy việc tìm kiếm các cách điều trị mới đang tiếp tục.

Dấu hiệu và triệu chứng viêm gan C

Bình thường, HCV không có triệu chứng trong giai đoạn đầu. Nếu có triệu chứng, chúng thường nhẹ và giống như cúm. Bao gồm:

–    Mệt mỏi nhẹ.

–    Buồn nôn hoặc chán ăn.

–    Đau cơ và khớp.

–    Tức vùng gan.

Cho dù bạn bị viêm gan C mạn tính, bạn cũng có rất ít triệu chứng. Trong nhiều trường hợp, triệu chứng không xuất hiện trong khoảng thời gian tới 30 năm. Mặc dù đôi khi bạn bị một hay nhiều triệu chứng sau:

–    Mệt mỏi.

–    Chán ăn.

–    Buồn nôn và nôn.

–    Vàng da vàng mắt kéo dài hoặc tái phát.

–    Sốt nhẹ.

Viêm gan C có thể gây tổn thương gan cho dù bạn không có triệu chứng. Bạn cũng có thể truyền vi rút cho người khác khi bản thân không có triệu chứng. Đó là lý do tại sao cần xét nghiệm nếu bạn nghi ngờ đã tiếp xúc với viêm gan C hoặc có hành vi nguy cơ.

Những phương pháp chẩn đoán ung thư đường mật

Những phương pháp chẩn đoán ung thư đường mật

Việc đánh giá bằng X-qang cây đường mật đã có những cải thiện vượt bậc vào cuối thập niên qua. Bước đầu tiên là siêu âm bụng. Sự giãn của ống mật là hình ảnh sớm và vị trí chít hẹp mật có thổ được xác định. Tại cùng thời điểm này, tình trạng không bị tắc nghẽn của động mạch gan chính và tĩnh mạch cửa cùng các nhánh của chúng có thể được đánh giá bằng siêu âm Doppler.

Ung thư đường mật và phương pháp chẩn đoán ung thư đường mật
Phương pháp chẩn đoán ung thư đường mật

Sau đó, CT xoắn ốc nhiều giai đoạn nên được thực hiện để đánh giá sâu hơn phạm vi thâm nhiễm của khối u và sự di căn xa nếu có. Nếu khối u có vị trí ở chỗ phân nhánh hay bên trên và liên quan đến việc tăng bilirubin thì X- quang đường mật qua gan dưới da (PTC: percutaneous transhepatic cholangiographi) để tìm kiếm đường dẫn mật của cả hai nhánh đường mật nên được thực hiện để nhìn thấy giới hạn trên của chỗ hẹp, những thông tin chính xác để có đánh giá tin cậy, và để giải quyết việc tắc mật.

Nếu carcinoma đường mật ở vị trí giữa hoặc dưới của ống mật thì nội soi đường mật ngược dòng (ERCP: endoscopic retrograde cholangiographi) là thích hợp. Mẫu khối u có thể được lấy bằng nội soi chải rửa hay sinh thiết bằng kim qua hướng dẫn của CT hay siêu âm. Chụp X-quang mạch thì thường không nên thực hiện và nên hạn chế với những trường hợp mà sự liên quan mạch máu vẫn còn chưa rõ ràng ở những kiểm tra ít xâm lấn khác. .

Các phương pháp chẩn đoán ung thư đường mật gồm:

1. Chụp đường mật bằng cộng hưởng từ (MRC: magnetic resonance cholangiographi)

Chụp cộng hưởng từ là một kỹ thuật mới, có khả năng nhìn thấy đường mật mà không xâm lấn. Trong khi vai trò của MRC được so sánh với PTC hay ERCP còn được đánh giá thì nó vẫn có những ưu điểm có ý nghĩa ở những trẻ em hay khi những phương thức chẩn đoán khác không thể thực hiện được. Với những phát triển sau này, kỹ thuật này sẽ có khả năng nhanh chóng trở thành một kiểm tra chẩn đoán thường quy.

2. Quét PET (positron-emission tomographi)

Quét PET được đề nghị như một phương thức chấn đoán cho việc phát hiện carcinoma đường mật, đặc biệt cho việc kiểm tra viêm đường mật xơ cứng bì nguyên phát. Trong nhóm của chúng tôi, chúng tôi thấy một sự nhạy cảm cao của quét PET đối với carcinoma đường mật trong gan là trên 90%.

Những kết quả của scan PET đối với những khối u đường mật ngoài gan thì với sự nhạy cảm thấp chỉ 60%. Hiện nay, chúng tôi không thực hiện quét PET nhằm để đánh giá ung thư đường mật ngoài gan. Cuối cùng, siêu âm trong phẫu thuật được thực hiện thường quy tại lức phẫu thuật để xác định phạm vi của sự phát triển khối u trong gan.